Từ khóa 
Tìm kiếm theo 
Tìm theo 

Dòng Đồng Phang (1) họ Ngô xã Định Hòa tỉnh Thanh Hóa (trước là xã Định Hòa huyện Yên Định): Thủy tổ Ngô Khắc Cumg – đời 22, con trai thứ 7 Thanh Quốc công Ngô Khế. Ông là tướng thời Lê sơ, một rường cột của Triều đình, có công lớn trong sự nghiệp phù Lê diệt Mạc, được phong Hiệp mưu thuần tín Tá lý đồng đức Hoàng tôn công thần, Đô đốc phù tá đô đốc trưởng phủ sự, Thái phó Nam Quận công. Đây là một dòng lớn, con cháu sống tập trung ở Đồng Phang, phân chi đi một số nơi như: Liễu Đề, Nghĩa Hưng, Nam Định; Tống Văn thành phố Thái Bình cải họ Phan.  Đến nay 23 đời.

Định Hòa xưa là đất Đồng Phang, được coi là đất Tổ của nhiều Dòng lớn họ Ngô Việt Nam. Khởi đầu được kể đến từ Tổ đời 17 Ngô Rô, Tổ bà Trần Thị Thể (có bản ghi là Hưu) (theo bia Sơn Lăng khu di tích lịch sử Lam Kinh – Thanh Hóa thì tên Tổ bà là Đinh Thị Quỳnh Khôi). Vốn gia cảnh bần hàn, hai ông bà được dân làng giao trông coi chùa Thiên Phúc. Đến khi qua đời, cách đêm chưa kịp chôn cất thì mối đã đùn đắp thành mộ, Tổ bà ở cuối chùa, Tổ ông ở xứ đồng Bờ Đó. Sau này phả sử gọi là được “thiên táng” đất phúc và thành câu chuyện truyền ngôn “Ông Bờ Đó, Bà Xó chùa”. Tiếp đến đời Ngô Tây, sau khi cha mẹ mất, một mình không nơi nương tựa, cuộc sống đói nghèo, vẫn ở lại coi chùa Thiên Phúc, được dân làng cấp vài sào ruộng làm ăn sinh sống, sau được ông họ Trịnh trong làng gả con gái là Trịnh Thị Kim cho làm vợ, sinh Ngô Kinh. Ngô Kinh năm 17 tuổi cha chết, 22 tuổi mẹ chết, cuộc sống vô cùng khó khăn, được người trong làng mách bảo, tìm đến nhà vị Tù trưởng Lê Khoáng (thân phụ Lê Lợi) nương nhờ. Vốn có tư chất thông minh, hoạt bát lại cần cù ngay thẳng nên được ông bà Lê Khoáng tin dùng, sau lại cưới cháu gái là Lê Thị Mười (Mại) cho làm vợ, giao cho làm quản gia. Năm 1418 khi Lê Lợi  dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, Ngô Kinh cùng con trưởng là Ngô Từ được Lê Lợi giao việc trông nom trang trại, chăm lo sản xuất, chuẩn bị quân lương. Hai cha con Ngô Kinh, Ngô Từ vừa sản xuất lương thực vừa tuyển quân gửi ra mặt trận, vừa  tổ chức phục binh đánh lui nhiều cuộc vây ráp của địch hòng tiêu diệt căn cứ. Phàm những việc Lê Lợi uỷ thác dặn dò đều làm tròn, anh em con cháu trưởng thành đều cho ra mặt trận. Sau thắng lợi, Ngô Kinh được phong Thái phó Hưng Quốc công, Ngô Từ được phong Bình Ngô khai quốc đệ nhất công thần, Thái bảo Chương Khánh công. Ngô Từ sinh 19 con, 11 con trai đều có công lớn với nhà Lê: 3 người được phong Hầu, 8 người được phong Quận công;  8 con gái đều là Á quận quân, đặc biệt có Ngô Thị Ngọc Dao lấy Lê Thái Tông sinh Lê Thánh Tông, một trong những minh quân sáng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Về sau Lê Thánh Tông và các triều đại nhà Lê cho xây Phúc Quang từ đường ở Đồng Phang để thờ Ngô Kinh, Ngô Từ và các bậc Tiên tổ họ Ngô – họ Ngoại nhà vua; bên cạnh dựng Thừa Hoa Điện thờ Quang Thục Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Từ thời kỳ này đến cuối các triều đại nhà Lê Trung hưng, các thế hệ con cháu họ Ngô rất nhiều người có công lớn lao với đất nước, với triều đình, nắm giữ nhiều trọng trách trong bộ máy quản lý nhà nước. Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của họ Ngô Việt Nam. Cũng từ đây, rất nhiều con cháu các thế hệ phân cư khắp nơi, hình thành các dòng họ Ngô lớn nhỏ ở khắp các địa phương đất nước.

 

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây