| Tên húy: | Ngô Văn Triện* |
| Giới tính: | Nam |
| Tình trạng: | Đã mất |
| Tên hiệu: | Trúc Khê |
| Chức vụ phẩm hàm: | Nhà văn, Nhà cách mạng VN |
| Ngày giờ sinh: | 22/5/1901 |
| Ngày giờ mất: | 26/8/1947 |
| Hưởng dương: | 46 |
| Bố: | Ngô Văn Chỉnh |
| STT | Họ tên | Ngày Sinh | Trạng thái |
|---|---|---|---|
| 1 | Ngô Văn Trưng* | Không rõ | |
| 2 | Ngô Hoàng Dương* | 1933 | Đã mất |
Ngô Văn Triện, hiệu Trúc Khê, là một nhà văn và nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu trong nửa đầu thế kỷ XX. Ông không chỉ để lại dấu ấn trong lĩnh vực báo chí, văn chương mà còn tích cực tham gia các phong trào cách mạng, đặc biệt là phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ.
Xuất thân từ một gia đình nông dân và tiểu thủ công, ngay từ nhỏ, Trúc Khê đã phải bươn chải với cuộc sống, vừa học vừa làm nhiều nghề khác nhau. Ông có tinh thần tự học đáng nể khi sớm tiếp thu cả chữ Hán, Quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 19 tuổi, ông có tác phẩm đầu tay Cải lương hương tục, được đăng trên Trung Bắc Tân Văn.
Năm 1928, ông thành lập Trúc Khê Thư Cục tại số 196 phố Hàng Bông, Hà Nội, để tự xuất bản sách của mình. Tuy nhiên, đến năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt giam tại Hỏa Lò, nhận án hai năm tù treo và năm năm quản thúc.
Sau khi ra tù, ông theo đuổi nghề báo, lần lượt làm Chủ bút các tờ Bắc Hà (1933), Thương Mại (1934) và cộng tác với nhiều tờ báo nổi tiếng như Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Tao đàn, Tri Tân, Nước Nam, Đông Tây, Ích Hữu, Dân báo... Từ năm 1941 đến 1945, ông tích cực tham gia phong trào truyền bá Quốc ngữ tại Hà Nội, góp phần thúc đẩy giáo dục và nâng cao dân trí.
Năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông cùng gia đình lên Trại Ro, xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông dự định lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng chưa kịp đi thì lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 26 tháng 8 năm 1947, hưởng dương 46 tuổi.
Dù cuộc đời ngắn ngủi, Trúc Khê đã để lại nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn học, báo chí và phong trào cách mạng. Những tác phẩm và tư tưởng của ông vẫn có giá trị lớn đối với nền văn hóa Việt Nam.